Bài viết theo ngày May 16th, 2012

Tức cảnh

Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên
Dạ thâm bất cảm tràng thân túc
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên.

Bản dịch Khuyết Danh
Trời làm màn gối, đất làm chiên
Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên
Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng.

Gia Huấn Ca

Lời Mở Đầu

Đặt quyển sách, vắt tay nằm nghĩ,
Hễ làm người dạy kỹ thì nên,
Phấn son cũng phải bút nghiên,
Cũng nhân tâm ấy há thiên lý nào.

Dạy Vợ Con

Nhân thong thả lựa vần quốc ngữ,
Làm bài ca dạy vợ nhủ con:
Lời ăn nết ở cho khôn,
Chớ nên đa quá, đa ngôn chút nào!
Ăn mặc chớ mỹ miều chải chuốt,
Hình dung đừng ve vuốt ngắm trông,
Một vừa hai phải thì xong,
Giọt dài giọt ngắn cũng không ra gì?
Khi đứng ngồi chứ hề lơ lẳng,
Tiếng nhục nhằn nữa nặng đến mình,
Đọc tiếp »

Bình Ngô đại cáo

Bình Ngô đại cáo là bài cáo của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Định vương Lê Lợi để tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt.

Về mặt văn chương, tác phẩm được người đương thời, ngay cả hậu thế, đều rất thán phục và coi là thiên cổ hùng văn. Có nhiều ý kiến cho rằng: đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Việt Nam (sau bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt và trước bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của Hồ Chí Minh).
Đọc tiếp »

Truyện Kiều

Truyện Kiều là tên gọi phổ biến của tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh của đại thi hào Nguyễn Du. Tác phẩm này đã đưa Nguyễn Du lên hàng danh nhân văn hoá thế giới. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện được viết ra sau khi ông đi sứ nhà Thanh về và theo lời truyền thì Phạm Quý Thích đã cho khắc in vào khoảng từ năm 1820 – 1825. Bản khắc in đó nay không còn nữa. Tác phẩm này được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Hiện nay, ở Việt Nam lưu truyền một số dị bản của tác phẩm này. Bản nôm cổ nhất còn lưu giữ là bản “Liễu Văn Đường” khắc in năm Tự Đức thứ 19 (1866), mới phát hiện ở tỉnh Nghệ An.

Truyện Kiều là tiểu thuyết viết bằng thơ lục bát. Truyện phản ánh xã hội đương thời thông qua cuộc đời của nhân vật chính Vương Thuý Kiều. Xuyên suốt tác phẩm là chữ “tâm” theo như Nguyễn Du đã tâm niệm “Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu” (nghĩa là “Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi”). Ngày nay, Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong những tác phẩm văn học Việt Nam được giới thiệu rộng rãi nhất đến với các du khách cũng như các nhà nghiên cứu nước ngoài.

1. Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Đọc tiếp »

Chinh phụ ngâm khúc

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên(1)
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Trống Tràng Thành (2) lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền (3) mờ mịt thức mây.
Chín lần gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
Nước thanh bình ba trăm năm cũ,
Áo nhung (4) trao quan vũ từ đây.
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng niềm tây (5) sá nào.
Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa (6)

Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng.
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền (7) mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời (8)
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa (9)
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.(10)
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị (11) ào ào gió thu.
Đọc tiếp »

Tây Du Ký bằng thơ – CHƯƠNG XVI

Thầy trò hội đủ

Một tiếng gầm vang tràn lửa hận
Yêu tinh động nộ trợn mày xanh
Phi ra nghênh chiến thì đã muộn
Bao nhiêu thủy phủ đã tan tành
Ôi những chỗ động yêu chảy máu
Gậy thép quay đập nát trời chiều
Bao đắng cay hận thù nung nấu
Thảy dồn lên ngập mắt quái yêu
Từ những cảnh đau thương đổ nát
Đã ngời lên nét mặt vô lương
Từ hàm răng chiếc còn chiếc mất
Đã bật lên những tiếng căm hờn:
“Động phủ xây bằng nước mắt
Cớ sao ngươi cũng chẳng tha
Thằng khỉ ranh từ đâu đến
Khôn hồn thì hãy khai ra?”

“Ta đáng tuổi ông cha ngươi đó
Bởi khi xưa đại náo thiên cung
Chắc là lúc ngươi còn quá nhỏ
Nên chẳng hề biết tiếng anh hùng
Giỏng tai lên mà nghe cho kĩ
Lão Tôn đây tên gọi Ngộ Không
Chỉ một chút lơ là sơ ý
Để ngươi bắt sư phụ giữa sông..”
Đọc tiếp »

Tây Du Ký bằng thơ – CHƯƠNG XV

Tai kiếp Lưu Sa

Lộp cộp vang móng ngựa
Thênh thang đường cái quan
Trèo đèo rồi lội suối
Thỉnh kinh vẫn vui tràn.

Hành lí dành Bát Giới
Mở đường có lão Tôn
Tam Tạng ngồi ngất ngưởng
Ung dung cưỡi Bạch Long

Chợt dừng cương nghe ngóng
Tiếng nước chảy đâu đây
Có lẽ sông phía trước
Lão Tôn đến xem ngay

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Quả có dòng trường giang
Tìm đương ra tận bể…
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng thỉnh kinh
Bồi hồi trong ngực trẻ
Trước muôn trùng sóng bể
Tam Tạng nổi máu..điên
Quay sang hỏi Bát Giới
Từ nơi nào sóng lên
Đọc tiếp »

Tây Du Ký bằng thơ – CHƯƠNG XIV

Thu nhận Bạch Long

Lèn chặt dạ lên đường ta đi tiếp
Ngày qua ngày dấn bước mặc đường xa
Không chịu dừng chân,bốn bể là nhà
Cho thỏa chí tang bồng hồ thỉ
Vung gậy sắt trừ ma diệt quỉ
Đường càng xa nung chí càng cao
Tháng năm thấm thoắt qua mau
Căm căm gió rét,rầu rầu mưa bay
Đang đi thẳng,gặp ngay cản lối
Giữa ban ngày khí tối âm u
Sương giăng lớp lớp mây mù
Khe kia khuất nẻo hoang vu nơi nào?
Tôn cưỡi gió lên cao xem thử
“Khe Ưng Sầu” ba chữ rành rành
Vội vàng giục ngựa chạy nhanh
E rằng có chuyện chẳng lành tới nơi:
“Mây đen đã khắp nơi vần vũ
Đích thị là do lũ yêu ma
Một là có việc đi qua
Hai là chúng sắp về nhà cũng nên”

Chợt sát khí bốn bên thổi lộng
Gầm rú vang khuấy động trong mây
Rồng to hiện giữa ban ngày
Giương nanh múa vuốt chộp ngay ngựa hồng
Khá bản lĩnh Ngộ Không bối rối
Chỉ kịp lao đỡ vội Đường Tăng
Bát Giới tức khí chửi nhăng
Sư phụ mất ngựa đi bằng cái chi?
Thân hòa thượng làm gì có của
Bị giật đồ phải rủa phải la
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà
Chân hoa một bước lệ hoa mấy hàng
Đọc tiếp »

Tây Du Ký bằng thơ – CHƯƠNG XIII

Hàng phục Bát Giới

Ngộ Không chẳng nói một câu
Múa tít thiết bảng bỗng đâu tới gần
Bát Giới chẳng kịp định thần
Đinh ba giơ đỡ:tê rần cổ tay

“Ta đây đang sống trong sung sướng
Ba năm kiếm vợ…chỉ tại mày

Khỉ kia tên họ là chi
Mà sao ta thấy có gì quen quen”
“Ông mày tên gọi Tề Thiên
Vốn là đại thánh ở miền Hoa sơn

Xưa kia đại náo tan thiên giới
Một phút sa cơ phải ngậm hờn…”
Đọc tiếp »

Tây Du Ký bằng thơ – CHƯƠNG XII

Theo dấu ác tặc

Đau đớn thay là cảnh thân tù!
Bị ràng buộc nghe chừng vô lý quá
Đại thánh kia đã làu thông biến hóa
Há sợ chi mũ vải cỏn con này
Đội lên đầu:vòng thép siết lại ngay
Đến lúc ấy mới thập phần kinh hãi
Nhưng đã muộn,đành mất đi mãi mãi
Hương tự do thơm ngát cả ngàn ngày

Ôi! Bao nhiêu ảo tưởng của hồn ngây
Tôn phút bỗng như thấy đời thê thảm
Kể từ nay sống cuộc đời tù hãm
Đọa đày trong những hố thẳm không cùng!
Cứ mỗi khi sư phụ chẳng vừa lòng
Niệm thần chú:Ta nát gan vỡ mật
Nhưng chưa chết,nghĩa là chưa hết hận
Nghĩa là chưa hết nhục của muôn đời
Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi
Mặc đau đớn như vỡ tan khối óc
Mặc giằng xé đớn đau phát khóc
Vẫn đứng lên theo tiếng gọi tự do
Chân kiêu căng không thoái bộ bao giờ!
Đọc tiếp »