Chinh phụ ngâm khúc

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên(1)
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Trống Tràng Thành (2) lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền (3) mờ mịt thức mây.
Chín lần gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
Nước thanh bình ba trăm năm cũ,
Áo nhung (4) trao quan vũ từ đây.
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng niềm tây (5) sá nào.
Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa (6)

Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải oán ra cửa phòng.
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền (7) mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời (8)
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa (9)
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.(10)
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị (11) ào ào gió thu.

Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền.
Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi taylại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng.

Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San.(12)
Múa gươm (13) rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.

Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử (14)
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba (15)

Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
Hà lương (16) chia rẽ đường này
Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi.
Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu, (17)
Ngựa sau còn khuất nẻo Tràng Dương. (18)

Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng.
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

Chàng thì đi cõi xưa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.
Chốn Hàm Dương (19) chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương (20) thiếp hãy trông sang.

Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy.
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chành ý thiếp ai sầu hơn ai?

Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm trăng này nghỉ mắt phương nao?
Xưa nay chiến địa dường bao,
Nội không muôn dặm xiết sao dãi dầu.
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn,
Dòng nước sâu ngựa nản chân bon.

Ôm yên gối trống đã chồn.
Nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh.
Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại, (21)
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua. (22)
Hình khe thế núi gần xa,
Đứt thôi lại nối thấp đà lại cao.
Sương đầu núi buổi chiều như gội,
Nước lòng khe nẻo lội còn sâu.
Não người áo giáp bấy lâu,
Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.

Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ,
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?

Tưởng chàng rong ruổi mấy niên,
Chẳng nơi hãn hải (23) thì miền Tiêu Quan. (24)
Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ,
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong.
Lên cao trông thức mây lồng ,(25)
Lòng nào là chẳng động lòng bi thương?
Chàng từ sang đông nam khơi nẻo,
Biết nay chàng tiến thảo (26) nơi đâu.
Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.
Nức hơi mạnh ân dày từ trước,
Trải chốn nghèo tuổi được bao nhiêu.

Non Kì (27) quạnh quẽ trăng treo,
Bến Phì (28) gió thổi đìu hiu mấy gò.

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi.
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt (29) nào ai gọi hồn?
Dấu binh lửa nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Phận trai già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu (30) tóc đã điểm sương mới về.
Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ,
Ba thước gươm một cỗ nhung yên.

Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên reo (31) đầu ngựa giáo dan (32) mặt thành.
Áng công danh trăm đường rộn rã,
Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi.

Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai.
Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây.
Trong cửa này đã đành phận thiếp,
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay (33)?
Những mong cá nước vui vầy,
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,
Chàng há từng học lũ vương tôn (34).
Cớ sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm thì hôm những sầu?
Trang phong lưu đang chừng niên thiếu,
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên.
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
Quan san để cách hàn huyên(35) cho đành!
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi (36) lại gáy trước nhà líu lo.

Thuở đăng đồ (37) mai chưa dạn gió,
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.
Nay đào đã quyến gió đông,
Phù dung lại đã bên sông bơ xờ. (Có bản chép : Tuyết mai trắng bãi phù dung đỏ bờ.)
Hẹn cùng ta Lũng Tây (38) nham ấy,
Sớm đã trông nào thấy hơi tăm.
Ngập ngừng lá rụng cành trâm,
Chiều hôm nghe dậy tiếng cầm (39) lao xao
Hẹn nơi nao Hán Dương (40) cầu nọ
Chiều lại tìm nào có tiêu hao.

Ngập ngừng gió thổi áo bào,
Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông. (41)
Tin thường lại người không thấy lại,
Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp chung quanh,
Sân đi một bước trăn tình ngẩn ngơ.

Thư thường lại người chưa thấy lại,
Bức rèm thưa lần dãi bóng dương.

Bóng dương mấy buổi xuyên ngang,
Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai?
Thử tính lại diễn khơi (42) ngày ấy,
Tiền sen (43) này đã nảy là ba.
Xót người lần lữa ải xa,
Xót người nương chốn hoàng hoa (44) dặm dài.
Tình gia thất nào ai chẳng có.
Kia lão thân (45) khuê phụ (46) nhớ thương.
Mẹ già phơ phất mái sương.
Con thơ măng sữa vả đương phù trì (47)
Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.

Nay một thân nuôi già dạy trẻ.
Nỗi quan hoài mang mể biết bao.
Nhớ chàng trải mấy sương sao,
Xuân từng đổi mới đông nào còn dư.

Kể năm đã ba tư cách diễn,
Mối sầu thêm nghìn vạn ngổn ngang.
Ước gì gần gũi tấc gang.
Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay.

Thoa cung Hán(48) thuở ngày xuất giá,
Gương lầu Tần (49) dấu cũ soi chung.
Cậy ai mà gửi tới cùng,
Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư?

Nhẫn đeo tay (50) mọi khi ngắm nghía
Ngọc cài đầu (50) thuở bé vui chơi.
Cậy ai mà gửi tới nơi,
Để chàng trân trọng dấu người tương thân?

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong, (51)
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.

Gió tây nổi khôn đường hồng tiên, (52)
Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. (53)
Đề chữ gấm (54) phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền (55) tin dở còn ngờ,
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.
Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài xiêm thắt (56) thẹn thùng,
Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo.
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác (57) đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.

Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn (58) kia với bóng người khá thương.
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên (59) kinh đứt phim loan (59) ngại chùng.
Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.
Non yên dầu chẳng tới miền,
Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời.
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng.
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.

Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi.

Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!

Đâu xiết kể muôn sầu nghìn não,
Từ nữ công phụ xảo đều nguôi.
Biếng cầm kim biếng đưa thoi,
Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa.
Mặt biếng tô miệng càng biếng nói,
Sớm lại chiều dòi dõi nương song.
Nương song luống ngẩn ngơ lòng,
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
Biếng trang điểm lòng người sầu tủi,
Xót nỗi chàng ngoài cõi Giang Lăng.

Khác gì ả Chức (60) chị Hằng, (61)
Bến Ngân (62) sùi sụt cung trăng chốc mòng.
Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối,
Muộn chứa đầy hãy thổi làm cơm
Mượn hoa mượn rượu giải buồn
Sầu làm rượu nhạt muộn dồn hoa ôi.
Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng,
Ôm đàn tranh mẩy phím rời tay.
Xót người hành dịch (63) bấy nay,
Dặm xa thêm mỏi tráp đầy lại vơi.
Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt,
Trống tiều (64) khua như rứt buồng gan.
Võ vàng đổi khác dung nhan,
Khuê li (65) mới biết tân toan (66) dường này.
Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ,
Chua cay này há có vì ai?
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi,
Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề!

Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng,
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn?
Bui còn hồn mộng được gần,
Đêm đêm thường tới Giang Tân tìm người.
Tìm chàng thuở Dương Đài (67) lối cũ,
Gặp chàng nơi Tương Phố (68) bến xưa.
Sum vầy mấy lúc tình cờ,
Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.
Giận thiếp thân lại không bằng mộng,
Được gần chàng bến Lũng thành Quan.
Khi mơ những tiếc khi tàn,
Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không.
Bui có một tấm lòng chẳng dứt,
Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi.
Lòng theo nhưng chửa thấy người.
Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe.
Trông bến nam bãi chia mặt nước,
Cỏ biếc um dâu mướt màu xanh.
Nhà thôn mấy xóm chông chênh, (69)
Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.

Trông đường bắc đôi chòm quán khách,
Rườm rà cây xanh ngắt núi non.
Lúa thành thoi thóp bên cồn,
Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.
Non đông thấy lá hầu chất đống,
Trĩ sập sè mai cũng bẻ bai.
Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.

Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,
Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu.
Ngàn thông chen chúc khóm lau,
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.
Trông bốn bề chân trời mặt đất,
Lên xuống lầu thấm thoát đòi phen.
Lớp mây ngưng mắt khôn nhìn,
Biết đâu bờ cõi là miền Ngọc Môn? (70)

Gậy rút đất (71) dễ khôn học chước,
Khăn gieo cầu (72) nào được thấy tiên.
Lòng này hoá đá cũng nên,
E không lệ ngọc mà lên trông lầu.

Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu,
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong (73)
Chẳng hay muôn dặm ruổi rong,
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
Lòng chàng ví cũng bằng như thế,
Lòng thiếp nào dám nghĩ gần xa?

Hướng dương lòng thiếp như hoa,
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái.

Hoa để vàng bởi tại bóng dương.
Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần!
Chồi lan nọ trước sân đã hái,
Ngọn tần kia bên bãi đưa hương.
Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
Ngửa trông xem vẻ thiên chương (74) thẫn thờ.
Bóng Ngân hán khi mờ khi tỏ,
Độ Khuê triền (75) buổi có buổi không.

Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc đẩu thôi đông lại đoài.

Một năm một nhạt mùi son phấn.
Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi.
Xưa sao hình ảnh chẳng rời.
Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương? (76)

Chàng ruổi ngựa dằm trường mây phủ,
Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in.
Gió xuân ngày một vắng tin,
Khá thương nhỡ hết mấy phen lương thì (77)

Sẩy nhớ khi cành Diêu đoá Ngụy,(78)
Trước gió xuân vàng tía sánh nhau.
Nọ thì ả Chức nàng Ngâu,
Tới trăng thu lại bắc cầu qua sông
Thương một kẻ phòng không luốn giữ,
Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau.
Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,
Người đời thấm thoát qua màu xuân xanh:
Xuân thu để giận quanh ở dạ,
Hợp li đành buồn quá khi vui.

Oán sầu nhiều nỗi tơi bời,
Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.
Kia Văn Quân (79) mĩ miều thuở trước;
E đến khi đầu bạc mà thương.
Mặt hoa nọ gã Phan lang (80)
Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng.
Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua.
Nghĩ mệnh bạc tiếc niên hoa,
Gái tơ mấy chốc sẩy ra nạ dòng.

Gác xuân nọ mơ mòng vẻ mặt,
Lầu hoa kia phảng phất mùi hương.
Trách trời sao để nhỡ nhàng,
Thiếp rầu thiếp lại rầu chàng chẳng quên.

Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội,
Cũng dập dìu chẳng vội phân trương.
Chẳng xem chim yến trên rường,
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.

Kia loài sâu đôi đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay.
Liễu sen là thức cỏ cây,
Đôi hoa cũng sánh đôi dây cũng liền.
Ấy loài vật tình duyên còn thế,
Sao kiếp người nỡ để đấy đây?
Thiếp xin về kiếp sau này,
Như chim liền cánh như cây liền cành.
Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy,
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau.
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu,
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.
Xin làm theobóng cùng chàng vậy,
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên.
Chàng nương vừng nguyệt phỉ nguyền,
Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn tròn.
Lòng hứa quốc (81) tựa son ngăn ngắt,
Sức tí dân (82) dường sắt tri tri

Máu Thiều Vu (83) quắc (84) Nhục Chi (85),
Ấy thì buổi uống ấy thì bữa ăn.
Mũi đòng vác (86) đòi lần hăm hở,
Đã lòng trời gìn giữ người trung.
Hộ chàng trăm trận nên công,
Buông tên ải bắc treo cung non đoài.
Bóng cờ xí giã ngoài quan ải,
Tiếng khải ca trở lại thần kinh.
Non Yên (87) tạc đá đề danh,
Triều thiên (88) vào trước cung đình (89) dâng công.
Nước duềnh Hán vác đòng rửa sạch,
Khúc nhạc từ réo rắt ngợi khen.
Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền,
Tên ghi gác Khói (90) tượng truyền đài Lân (91)
Nền huân tướng đai cân rạng vẻ (92),
Chữ đồng hưu (93) bia để nghìn đông.
Ơn trên tử ấm thê phong,
Hiển vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.

Thiếp chẳng dại như người Tô phụ, (94)
Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương (95).
Khi về đeo quả ẩn vàng,
Trên khung cửi dám rẫy ruồng làm cao.
Xin vì chàng xếp bào cởi giáp,
Xin vì chàng rũ lớp phong sương.
Vì chàng tay chuốc chén vàng,
Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.
Giở khăn lệ chàng trông từng tấm,
Đọc thơ sầu chàng thẩm từng câu.
Câu vui đổi với câu sầu,
Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.

Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
Sẽ ca dần ren rén từng thiên.
Liên ngâm đối ẩm đòi phen,
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.
Cho bõ lúc sầu xa cách nhớ,
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình.
Ngâm nga mong gửi chữ tình,
Dường này âu hẳn tài lành trượng phu.

1. Truân chuyên: gian nan khốn khó
2. Trường thành: Vạn Lí trường thành, do Tần Thuỷ Hoàng xây dựng.
3. Cam tuyền: Tên đất
4.Ảo nhung: áo của quân nhân.
5. Niềm tây: Niềm riêng.
6. Thê noa: vợ con.
7. Thành liền: bởi chữ “liên thành” (những thành liền nhau). Điển tích: Nước Triệu có hai hòn ngọc bích. Vua nước Tần viết thư xin đem năm thành trì đổi ngọc ấy. Về sau, vật gì quí báu gọi là có giá “liên thành”.
8. Thiên kiêu: giặc trời Hán thư có câu “Hồ giả thiên chi kiêu tử” (giặc Hồ là đám con khó dạy của trời).
9. Da ngựa: bởi chữ “mã cách” (Mã: ngựa; cách: da). Điển tích: Đời Đông Hán; Mã Viện, tướng giỏi, từng nói: “Làm trai nên chết chốn sa trường biên ải, lấy da ngựa bọc thây chôn mới gọi là trai”.
10. Thái Sơn, hồng mao: Tư Mã Thiên nói: “Người ta vẫn có cái chết, song có cái chết đáng nặng như núi Thái Sơn, có cái chết không đáng nhẹ như lông chim hồng”. ý nói có sự đáng chết và không đáng chết.
11. Cầu vị (Vị kiều): Lí Bạch có câu thơ “Tuấn mã nhược phong phiêu, minh tiên xuất Vị kiều”.
(Ngựa giỏi đi nhanh như gió cuốn, thét roi ra lối cầu sông vị).
12. Có câu hát “Tướng quân tam tiễn định Thiên Sơn, tráng sĩ trường ca nhập Hán quan” (ba mũi tên của tướng quan lấy được núi Thiên Sơn, tráng sĩ hát dài mà kéo quân vào cửa ải Hán).
13. Gươm (Long Tuyền): Tên một thanh kiếm báu.
14. Giới Tử, Lâu Lan: Phó Giới Tử, tướng nhà Đường, dùng mưu giết chết vua đất Đại Uyển là Lâu Lan.
15. Man Khê, Phục Ba: Mã Viện, đời Đông Hán, lĩnh chức Phục Ba tướng quân, từng đánh dẹp bọn rợ ở Man Khê.
16. Hà Lương: (hà: sông, lương: cầu). Ngày xưa tiễn đưa nhau thường đến chốn “cầu sông”.
17. Tế Liễu: Vua Hán Văn Đế đến doanh Tế Liễu là nơi đồn quân của tướng Chu á Phu để khao thưởng quân sĩ.
18. Tràng Dương: Tên đất (cũng là tên cung của nhà Tần).
19. Hàm Dương: Tên đất, tây kinh của nhà Tần.
20. Tiêu Tương: tên sông.
21. Thành Bạch Đăng. Vua Hán Cao Tổ từng bị vây ở đấy.
22. Thanh Hải: Tên đất. Đời Đường, rợ Thổ Cốc Hồn hùng cứ ở đấy.
23. Hãn hải: Bãi sa mạc.
24. Tiêu Quan: tên cửa ải ở nơi hiểm trở. Các đời Đường, Tống xây luỹ đắp đồn chống rợ Thổ Phồn.
25. Lên cao trông thức mây lồng: Điển tích: Đời Đường, Địch Nhân Kiệt đi đánh giặc xa nhà, lên núi cao trông đám mây trắng ở xa xa, nói với quân sĩ rằng: “Cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng ấy”, ý nói nhớ nhà.
26. Tiến thảo: (Tiến: đi tới; thảo: đánh dẹp giặc cướp).
27. Non Kì (Kì Sơn): Núi Kì Liên, đời Hán, Hoắc Khứ Bệnh đánh rợ Hung Nô ở đấy.
28. Bến Phì (Phì Thuỷ): tên sông. Bồ Kiên nước Tần, đem hàng trăm vạn quân đánh Tấn ở sông này, thua trận, quân sĩ mười phần chết mất tám chín, thây đắp thành gò.
29. Mạc mặt: vẽ ra nét mặt. (Dịch chữ “đan thanh” (đan: sắc đỏ; thanh: sắc xanh).
30. Ban Siêu: danh tướng đời Hán, theo việc binh nhưng ra xứ Tây Vực ở 31 năm, lập nhiều công lớn, khi về đã quá 80 tuổi.
31. Tên reo đầu ngựa (minh đích) : (minh: kêu; đích: mũi tên bịt sắt) : tên nỏ bịt sắt, bắn đi vang ra tiếng.
32. Giáo dan (duyên can) : (duyên: leo; can: cán cây giáo): leo ngọn giáo mà lên mặt thành (duyên – doan).
33. Vay: tiếng đệm của câu than thở.
34. Vương tôn: con nhà giàu sang, ưa đi chơi không đoái đến gia đình.
35. Quan san, hàn huyên: (quan : ải ; san : núi : hàn : lạnh ; huyên : ấm), ý nói cách trở, không biết tin tức của nhau.
36. Ý nhi: chim én (yến) thường làm tổ trong mái nhà.
37. Đăng đồ: lên đường ra đi nơi xa.
38. Lũng Tây (Lũng Tây sầm): núi nhỏ mà cao (sầm) ở đất Lũng Tây.
39. Tiếng cầm: tiếng chim chóc.
40. Hán Dương: tên đất.
41. (Mộ trào) : (mộ : chiều : trào, triều : con nước) : con nước lên buổi chiều hôm.
42. Diễn khơi ngày ấy: từ ngày cách xa nhau.
43. Tiền sen: dịch chữ “hà tiền” (hà : sen : tiền : đồng tiền), lá sen non nổi ở mặt nước như đồng tiền.
44. Hoàng hoa thú: lính thú đời xưa, cứ tháng 9 thì cắt đi, đến tháng 9 năm sau mới đổi về. Tháng 9 là mùa hoa cúc nở, sắc vàng, cho nên gọi là “Hoàng hoa thú”.
45. Lão thân: cha mẹ già.
46. Khuê phụ: người vợ ở chốn khuê phòng.
47. Phù trì: trông nom, ẵm bồng.
48. (Hán cung thoa): nhắc tích Hán Vũ đế ban cho bà Triệu Tiếp Dư một cái thoa ngọc.
49. (Tần lâu kính): Tần Thuỷ Hoàng có cái gương lớn gọi là “chiếu đảm kính”, soi thấy mật trong thân thể, biết được người nào có tà tâm.
50. (Câu chỉ ngân, tao đầu ngọc) : nhẫn đeo tay bằng bạc; trâm cài đầu bằng ngọc.
51. Lấy thích Tô Vũ xé áo lụa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán.
52. Hồng tiện: nhờ nhạn đem thư buộc ở chân (hồng: chim nhạn trống; nhạn: chim mái).
53. Màn mưa trướng tuyết (hổ trướng, lang vi): trướng hổ, màn lang, chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài.
54. (Cẩm tự đề thi): Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi “hồi văn” dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về.
55. (Kim tiền vấn bốc): gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ.
56. Xiêm thắt: áo quần thắt nhỏ (thân thể gầy vì nhớ chồng).
57. Rủ thác: bỏ rèm xuống, cuốn lên.
58. Hoa đèn: dịch chữ “đăng hoa” (đĩa đèn dầu xưa).
59. Dây uyên, phím loan: hai sợi dây đàn như đôi chim uyên ương, hai phím đàn như đôi chim loan phụng. Chinh phụ không muốn lên dây đàn, sợ đứt dây hoá ra điềm xấu.
60. Chức nữ.
61. Hằng Nga
62. Bến sông Ngân Hà, nơi Ngưu Lang – Chức Nữ gặp gỡ.
63. Hành dịch: đi làm nghĩa vụ (đi lính).
64. Trống canh ở trại quân.
65. Khuê li: xa cách nhau lâu ngày.
66. Tân toan: (tân: cay; toan: chua): nỗi chua cay.
76. Dương Đài: tên núi, vua Tương Vương nước Sở mộng gặp thần nữ Vu Sơn ở đấy.
68. Bến sông Tiêu Tương.
69. (Tỉnh ấp) : (tỉnh: giếng; ấp: xóm) : những nơi xóm làng.
70. Ngọc quan: Ngọc Môn quan, tên một cửa ải, nơi giáp giới xứ Tây Vực.
71. Gậy rút đất: Phí Trường Phòng học được thuật rút đất, hễ dùng cái gậy trỏ xuống đất thì nghìn dặm đường cũng thu lại ở trước mắt.
72. Khăn gieo cầu: Thôi sinh vào núi lấy được tiên nữ làm vợ, học được phép tàng hình, lẻn vào trong cung để tinh nghịch, bị đạo sĩ đuổi bắt. Chàng chạy về núi, còn cách con sông, tiên nữ hoá phép ném cái khăn biến thành nhịp cầu ngũ sắc để cho chàng chạy qua.
73. Hai câu này dịch hai câu thơ của bài “Khuê oán” của Vương Xương Linh, thi sĩ đời Đường:
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu
74. Thiên chương: các vẻ trên trời, như: tinh tú, nhật, nguyệt…
75. Khuê triền: độ đi của sao Khuê.
76. Sâm, Thương: sao Sâm (sao Hôm) phương Tây, sao Thương (sao mai) ở phương Đông, một ngôi hiện ra thì một ngôi lặn đi không cùng trông thấy mau. Ý nói sự li biệt.
77. Lương thì: thời tươi đẹp.
78. Diêu hoàng, Nguỵ tử: nhà Diêu Sùng có hoa mẫu đơn vàng (hoàng); nhà Nguỵ Nhân Phổ có hoa mẫu đơn tía (tử).
79. Văn Quân: giai nhân đời Hán, Trác Văn Quân, goá chồng, nghe Tư Mã Tương Như đàn khúc “Phụng cầu hoàng” ưng theo làm vợ. Sau Tương Như muốn lấy vợ lẽ, Văn Quân bèn làm bài “Bạch đầu ngâm”. Tương Như cảm kích, thôi không lấy lẽ, cùng Văn Quân ở đời đến già.
80. Phan lang: người con trai tuấn tú đời Tấn Phan An Nhân, mỗi khi ra đường, con gái hay ghẹo, ném quả đầy xe.
Điển tích này và điển tích trên ý nói: một ngày kia vợ chồng cùng già.
81. Hứa quốc: một lòng đem thân giúp nước.
82.Tý dân: Hết sức che chở nhân dân.
83. Thiền Vu: chúa của rợ Hung Nô.
84. Quắc: lỗ tai trái. Dâng đầu giặc ghi công chỉ cần xẻo lỗ tai trái đem về nộp.
85. Nhục chi: tên nước xưa ở miền Tây Vực.
86. Đòng vác: gươm giáo.
87. Non Yên: Núi Yên Nhiên ở đất ngoại Mông Cổ. Đời Hậu Hán, Đậu Hiến đánh đuổi rợ Hung Nô đến đấy, lên núi khắc công huân vào đá, rồi về.
88. Triều thiên: thiên triều, triều (đình) vua.
89. (Vị Ương cung): cung điện nhà Hán, chu vi rộng lớn, xây dựng luôn, hết cung này đến điện nọ không bao giờ rồi, cho nên đặt tên”Vị Ương”(chưa hết); cũng như: dạ vị ương (đêm chưa sáng).
90. Gác Khói: Lăng Yên các (lăng yên: cao vượt trên tầng mây khói), vua Đường Thái Tông cho dựng để vẽ hình 24 công thần.
91. Đài Lân: Kì Lân đài, Vua Hán Tuyên đế cho vẽ tượng 10 công thần ở đấy.
92. Mao tư khoán: (mao: cỏ tranh; tư: cỏ gai; khoán: vǎn tự để làm tin): Đời xưa phong hầu, vua ban cho đất ngũ sắc có bọc mao tư, hoặc cho tấm thiết khoán (tấm sắt ghi công trạng). dịch giả dùng “nền huân tướng” dịch từ ngữ này (huân công, huân nghiệp: công nghiệp to lớn).
93. Đồng hưu: bởi câu “dữ quốc đồng hưu thích” (cùng lo cùng vui với nước nhà).
94. Tô phụ: vợ Tô Tần. Khi còn hàn vi, Tô Tần về nhà, người vợ cứ ngồi trên khung cửi, không thèm đứng dậy.
95. Lạc Dương: chỉ Tô Tần, người Lạc Dương.

Phần bình luận tạm thời không hoạt động, độc giả có thể đăng link trên site khác.

Phần bình luận tạm thời không hoạt động.